Giáo dục

Thương vợ

Thương vợ

Các em học sinh thân mến! Để giúp các em học tốt Ngữ văn lớp 11, CITD đã tổng hợp bài thơ Thương vợ gồm soạn bài lớp 11, phân tích thơ, so sánh… chắc chắn sẽ giúp các em học sinh nắm chắc kiến thức bài Thương vợ để có kết quả cao hơn trong học tập. CITD mời các bạn học sinh và thầy cô tham khảo tài liệu lớp 11: Thương vợ.

Thương vợ

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!

Bài thơ này được sử dụng trong các chương trình SGK Văn học 11 giai đoạn 1990-2006, Ngữ văn 11 từ 2007.

Bạn đang xem: Thương vợ

Nguồn:

1. Thơ văn Trần Tế Xương, NXB Giáo dục, 1984

2. Thơ Trần Tế Xương, NXB Văn hoá – Thông tin, 1998

3. Dương Quảng Hàm, Việt Nam thi văn hợp tuyển, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Hà Nội, 1951

I. Khái quát chung về tác giả Trần Tế Xương

a. Tiểu sử tác giả Trần Tế Xương

Trần Tế Xương (1870 – 1907) thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc phường Vị Hoàng, thành phố Nam Định).

Trần Tế Xương chỉ sống 37 năm và chỉ đỗ tú tài nhưng sự nghiệp thơ ca của ông đã trở thành bất tử.

Trần Tế Xương là một người rất thông minh, tính tình thích trào lộng.

b. Sự nghiệp văn học của Trần Tế Xương

Trần Tế Xương sáng tác trên 100 bài thơ, chủ yếu là thơ Nôm, gồm nhiều thể thơ (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, lục bát) và một số bài văn tế, phú, câu đối,…

Sáng tác của Trần Tế Xương gồm hai mảng: trào phúng và trữ tình, đều bắt nguồn từ tâm huyết của nhà thơ với dân, với nước, với đời.

Thơ Trần Tế Xương là một bức tranh xã hội thực dân nửa phong kiến: Trong thơ ông có hình bóng con người và sinh hoạt của xã hội phong kiến cũ đã bị thực dân hóa, và có hình bóng những vật mới, những sinh hoạt mới – sản phẩm của xã hội thực dân nửa phong kiến.

Thơ xưa viết về người vợ đã ít, mà viết về người vợ khi đang còn sống càng hiếm hoi hơn. Thơ Trần Tế Xương lại khác, trong sáng tác của ông, có hẳn một đề tài về bà Tú bao gồm cả thơ, văn tế, câu đối.

Nghệ thuật thơ văn Trần Tế Xương: Thơ trào phúng của Trần Tế Xương hết sức đa dạng và phong phú. Thơ trữ tình lời thơ nhuần nhuyễn, ý thơ gần gũi, sâu lắng.

II. Đôi nét về tác phẩm Thương vợ (Trần Tế Xương)

1. Xuất xứ

– Thương vợ là bài thơ cảm động nhất trong chùm thơ văn câu đối về đề tài bà Tú.

2. Bố cục

– Phần 1 (4 câu đầu): Hình ảnh bà Tú tần tảo, chịu thương chịu khó hiện lên qua nỗi thương vợ của thi sĩ.

– Phần 2 (còn lại): Tình cảm, thái độ của tác giả.

3. Giá trị nội dung

– Với tình cảm thương yêu quý trọng, tác giả đã ghi lại một cách chân thực xúc động hình ảnh người vợ tàn tảo, giàu đức hi sinh.

4. Giá trị nghệ thuật

– Cảm xúc chân thành, lời thơ giản dị sâu sắc.

III. Dàn ý phân tích Thương vợ (Trần Tế Xương)

1. Hình ảnh bà Tú qua nỗi lòng thương vợ của ông Tú

a. Nỗi vất vả gian truân của bà Tú

– Nỗi vất vả gian truân của bà Tú được gợi lên qua không gian, thời gian của cuộc mưu sinh buôn bán ngược xuôi:

+ thời gian: là quanh năm, là khi quãng vắng.

• quanh năm là không ngừng không nghỉ.

• ba từ khi quãng vắng đã gói trọn khôn gian heo hút, rợn ngợp chứa đầy lo âu, nguy hiểm.

+ không gian: là mom sông, bãi chợ buổi đò đông.

• mom sông là dẻo đất nhô ra ba bề là nước, chênh vênh, cheo leo vô cùng nguy hiểm.

• buổi đò đông gợi cảnh chợ bon chen đông đúc cũng nguy hiểm trùng trùng khác nào khi quãng vắng.

– Nguy hiểm là thế vất vả là vậy bà Tú vẫn lăn xả nơi đó nuôi đủ năm con với một chồng.

– Nỗi vất vả gian truân của bà Tú còn được gợi lên qua hình ảnh Lặn lội thân cò khi quãng vắng:

+ nghệ thuật đảo ngữ cùng các từ láy đã khắc họa rõ ràng chân thực dáng vẻ và công việc nhọc nhằn của bà Tú.

+ sáng tạo hình ảnh thân cò từ ca dao khiến tình thương vợ của nhà thơ thấm thía hơn.

b. Hình ảnh bà Tú với những đức tính cao đẹp

– Bà Tú là một người đảm đang tháo vát chu đáo với chồng con.

– Bà Tú là người giàu đức hi sinh:

Một duyên hai nợ âu đành phận

Năm nắng mười mưa dám quản công

⇒ Hình ảnh bà Tú mang vẻ đẹp điển hình của người phụ nữ Việt truyền thống.

2. Thái độ tình cảm của ông Tú dành cho bà Tú

– Đằng sau những lời tự trào là cả một tấm lòng yêu thương quý trọng, tri ân vợ:

+ thấu hiểu những vất vả, nhọc nhằn của vợ, thương vợ.

+ không chỉ thương mà còn biết ơn vợ.

– Là con người có nhân cách.

+ ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Tú Xương tự coi mình là cái nợ đời của bà Tú, ông cất tiếng chửi thói đời bạc bẽo nhưng vận nhận lấy trách nhiệm hững hờ của mình.

+ ở thời đại mà tư tưởng phong kiến vẫn đeo bám nặng nề một người đàn ông tự nhận là kẻ ăn bám vợ con quả là một nhân cách cao đẹp, một tư tưởng tiến bộ.

+ câu thơ kết bài là tiếng chửi thói đời bạc bẽo đanh thép của Tú Xương, ông đang lên tiếng thay cho những số phận hoàn cảnh như mình và vợ mình.

3. Nghệ thuật

– Sử dụng sáng tạo các thành ngữ: một nắng hai sương, năm nắng mười mưa.

– Vận dụng sáng tạo hình ảnh thân cò trong ca dao.

– Từ ngữ trong sáng giản dị, mộc mạc mà giàu sức gợi hình biểu cảm.

Tài liệu liên quan đến bài thơ Thương vợ

    Đăng bởi: CITD

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

    Back to top button