Giáo dục

Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội

Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội

Văn mẫu lớp 12: Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội dưới đây được CITD sưu tầm và giới thiệu tới các em học sinh cùng quý thầy cô tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo.

Dàn ý Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội

1. Mở bài

Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội.

Bạn đang xem: Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội

2. Thân bài

a. Giải thích

Cái đẹp trong thiên nhiên: vẻ đẹp của tự nhiên, của cảnh quan, danh lam thắng cảnh xung quanh ta mà chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của nó.

Cái đẹp trong xã hội: là những hành động, nghĩa cử, đức tính tốt đẹp của con người, cách con người đối xử văn minh với nhau để làm cho xã hội tốt hơn.

Cái đẹp vô cùng quan trọng, nó làm cho cuộc sống của chúng ta trở nên thi vị hơn, nhiều màu sắc hơn, ý nghĩa và đáng sống hơn.

b. Phân tích

Mẹ thiên nhiên không chỉ dành tặng con người môi trường sống mà còn tạo ra những vẻ đẹp để chúng ta cảm thụ, tô điểm cho cuộc sống của một người thêm sinh động, màu sắc hơn. Mỗi người có ý thức giữ gìn, bảo vệ những vẻ đẹp mà tự nhiên mang lại.

Mỗi người chỉ được sống một lần, chúng ta hãy sống thật tốt, đối xử chân thành với mọi người, cùng nhau chung ta giúp cho đất nước phát triển đẹp đẽ, văn minh hơn. Cái đẹp trong xã hội vốn dĩ là do con người tạo ra, chúng ta hãy tạo ra những đức tính tốt đẹp cho chính mình và những hành động cao đẹp với người khác.

c. Phản đề

Trong cuộc sống có nhiều người chưa có ý thức bảo vệ, giữ gìn vẻ đẹp của tự nhiên, thậm chí có những hành động phá hoại thiên nhiên. Bên cạnh đó cũng có những người ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không biết nghĩ cho người khác,….

3. Kết bài

Khái quát lại vấn đề nghị luận: cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.

Nghị luận về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội mẫu 1

Trong thực thể đẹp nghệ thuật dường như có tất cả mà cũng như không có riêng về một mặt nào của đời thực: quan hệ kinh tế – xã hội, chính trị, triết học, văn hóa, đạo đức, khoa học, nhân cách, lối sống và lời ăn tiếng nói, sự nghiệp vĩ đại và đời thường nhỏ nhặt, thế giới bên trong và mặt cắt bên ngoài, cá nhân và cộng đồng, xưa, nay và mai sau…

Đó là một hiện tượng xã hội sống động, chứa đựng biết bao số phận cụ thể có bản chất “tổng hòa những quan hệ xã hội” rất chung mà cũng rất riêng, rất quen thuộc mà cũng rất mới lạ. Chính thể nghệ thuật là “bản sao” sinh động, toàn vẹn cuộc sống xã hội nhưng đã vượt khỏi nguyên mẫu, lung linh tài năng sáng tạo và thấm đượm “cái tâm” vì con người, vì “người hơn” của quần chúng lao động mà nghệ sĩ là đại diện trung thực. Một tác phẩm có giá trị thẩm mỹ cao là kết quả của sự hòa quyện nhuần nhuyễn ba yếu tố cơ bản: phản ánh chân thực đời sống xã hội, độc đáo, đặc sắc sáng tạo nghệ thuật tình cảm nhân đạo, với ý thức xã hội tiên tiến.

Nhu cầu hướng tới cái đẹp của con người luôn luôn mang tính khẳng định: con người cần phải đẹp “cả khuôn mặt, cả quần áo, cả tư tưởng” (Tsêkhôp), và toàn bộ các quan hệ xã hội với những hoạt động cụ thể của chúng cũng cần phải “theo quy luật của cái đẹp” (Mác). Vì vậy, cái đẹp có quyền tuyệt đối tồn tại phát triển. Cái đẹp là chuẩn mực, thước đo để định giá và định hướng, là lý tưởng thẩm mỹ mang tính phổ biến trong mọi lĩnh vực sống của con người nói riêng, của xã hội nói chung. Chỉ từ cái đẹp người ta mới có thể phủ định cái ác, cái giả, cái cũ. Trong nghệ thuật cái đẹp càng hiện ra đầy đặn, rực rỡ càng cơ sức lôi cuốn, cổ vũ, cảm hóa.

Trước cái đẹp của con người và cuộc sống được mô tả trong tác phẩm nghệ thuật, tình cảm, thị hiếu phán đoán và lý tưởng thẩm mỹ của công chúng được khơi nguồn và rộng mở trực tiếp, chính diện và có ảnh hướng rõ ràng. Cảm thụ cái đẹp là cảm thụ đặc biệt tích cực, khoái cảm trước cái đẹp là niềm hân hoan, sự say mê vừa sâu vừa lâu bền. Thật là lạ, các cụ xưa đắng cay trăm nỗi, thế mà vẫn ngâm ngợi bông sen, con cò, cô Tấm, chàng Thạch Sanh, ông Bụt. Vào những khi xã hội lắm đảo điên, đời người đầy rẫy tang thương, nhân dân trông đợi ở nghệ sĩ không chỉ phê phán thực trạng tăm tối, mà chủ yểu là soi tỏ cho họ niềm tin vào sức sống nhân văn. Những “kết thúc có hậu”, “đại đoàn viên” trong văn chương ta xưa dường như là một tất yếu nghệ thuật, một nguyên tắc đạo lý nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội – thẩm mỹ, mà nếu thiếu vắng chúng người ta sẽ mất đi chỗ dựa vững chãi trong cuộc đời thực. Ngay cả những nghệ sĩ hiện thực “phê phán nồng nhiệt” vì “nỗi đau về con người” (Đôbrôliubốp) cũng trăn trở tìm kiếm “con người tốt tuyệt vời” (Dôxtôiepxki), “con người mới” (Tsecnưsepxki), “niềm tự hào về con người”, vì nghệ thuật cần “phù hợp với những đứa con của cách mạng” (Xtăngđan). Chính những nghệ sĩ đó đã tiếp nhận tự giác hay chưa thật tự giác tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa của quần chúng lao động, tư tưởng cách mạng trong xã hội đương thời. Không phải không từng có sự trùng khớp sóng đôi giữa sự rung chuyển tận gốc rễ xã hội và nghệ thuật sinh ra để đáp ứng yêu cần của sự rung chuyển đó: Đời sống không hiếm kỳ tích được lập nên do quần chúng tự giác, tự nguyện “gạt phăng hết đời tư nhỏ hẹp” để vươn tới thế giới mới đại đồng. Nghệ thuật nếu tự hào vào đám đông, vì đám đông, đương nhiên phải miêu tả “cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” (Hồ Chí Minh) cái đẹp – anh hùng, cái đẹp – cao cả trong tầm vĩ mô hơn là dừng lại, đào sâu một bộ phận vi mô riêng lẻ. Đó là trường hợp văn thơ công xã Pari, nghệ thuật xô viết trong cách mạng tháng 10 và Chiến tranh vệ quốc, nghệ thuật Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vừa qua. Khẩu đại bác tương lai bao nhiêu milimet sẽ nhằm vào ta khi hôm nay ta bắn súng lục vào “thứ văn nghệ ngợi ca” đó.

Giờ đây từ công cuộc đổi mới xã hội sâu sắc và toàn diện những nhân tố mới, những kết quả bước đầu quan trọng, những con người của CNXH đích thực đã xuất hiện và nhân lên mạnh mẽ. Quần chúng tin rằng nghệ sĩ và nghệ thuật sẽ đi cùng chiều và đi trước để ghi nhận, gây men, dự báo, định hướng. Muốn vậy, trước hết, nghệ sĩ phải có con mắt tinh đời nhìn thấy những cái mới mẻ. Nhưng sẽ không đơn giản một chút nào khi nhận thức và phản ánh cái mới, cái đẹp trong xã hội. Nhất là con người ngày nay năng động, cởi mở, nhảy vọt về tất cả mọi phương diện sống của nó, từ hoạt động thực tiễn, lối sống, nhân cách, lời nói đến ý thức, tư tưởng, tâm lý, tình cảm…

Tất nhiên, những thực thể hiện đại đó cũng phức tạp hơn, đa dạng hơn, nhiều ngõ ngách mê cung, nhiều nghịch lý “cái không thể trở thành cái có thể”. Ở đây, sự hoạt động của cái đẹp, cái tốt, cái thật, cái mới không đứng ngoài những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của con người và xã hội. Đó chính là sự vận động của mọi cái đang tồn tại, những bước nhảy vọt của sự gián đoạn tính tiệm tiến, sự chuyển hoá thành mặt đối lập, sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới, như Lê nin đã nói. Vì vậy tách rời, cô lập cái mới, cái đẹp, cái tốt ra khỏi mối liên hệ môi trường khách quan quy định chúng và cơ thể tự vận động, phát triển chủ quan của chúng thì chúng chỉ là một cái xác thậm chí, một quà tặng vô duyên đối với công chúng. “Tơ hồng” cũng có nghĩa là “đánh lừa”, dù xuất phát từ ý định thành thật biểu dương, ca ngợi đến mức nào.

Dự cảm, dự báo không phải là độc quyền hay ưu thế tuyệt đối của riêng nghệ thuật. Và cũng như bất cứ tư tưởng khoa học tiên tiến nào, nó là cái vốn có của ý thức thẩm mỹ chân chính khi nghệ sĩ nhận thức và phản ánh đúng đần những điều trông thấy trong đời sống xã hội và xu hướng biến đổi tất yếu khách quan của nó. Nghệ thuật không chỉ tiên đoán, dự báo về sự nảy sinh, phát triển và chiến thắng của cái mới, cái đẹp mà còn dự đoán quá trình cái cũ, cái xấu sẽ tàn lụi, mất đi dù hôm nay nó đang hoành hành. Tính đi trước của tư tưởng khoa học ở chỗ chỉ ra con đường thực tiễn và cái đích, đi tới của sự phát triển xã hội do nắm bắt được những nhu cầu đã chín muồi của đời sống hiện thực, vì vậy, nó có ý nghĩa lớn lao trong việc hướng dẫn tổ chức và giáo dục quần chúng lao động và các lực lượng tiến bộ giải quyết những nhiệm vụ mới do chính đời sống thực tiễn đề ra. Còn nghệ thuật lại hình tượng hóa dự cảm để bộc lộ cụ thể, sinh động lý tường thẩm mỹ, trong đó cái đẹp cần có sẽ có vai trò trung tâm, hạt nhân hợp lý, tập trung và chi phối toàn bộ dự cảm nghệ thuật. Trong dự cảm này chất tư tưởng khoa học tiên tiến về những quan hệ xã hội vừa là cơ sở khách quan trực tiếp vừa được hoà tan vào chất thẩm mỹ của cái đẹp được diễn tả. Đối với công chúng, dự cảm nghệ thuật đem lại chân lý, niềm tin của sự vươn tới về cái đẹp, gợi mở và thôi thúc hiện thực hóa nó thông qua sự tự thanh lọc, tự đồng hóa bằng chất men tình cảm và ý thức xã hội của chủ thể thường thức.

Xét ở góc độ thẩm mỹ, cái đẹp trong nghĩa đầy đủ và sâu sắc nhất của nó dường như là cái cốt lõi của nhân bản, gốc rễ của chất người, bởi vì con người sáng tạo thế giới và sáng tạo mình “theo quy luật của cái đẹp”. Những cái đẹp người và cái nhân bản không phải là cái thuần túy trừu tượng, phi xã hội – lịch sử do bản chất hiện thực của con người là một chỉnh thể “tổng hòa mọi quan hệ xã hội”. Từ đó, cái đẹp nhân bản không thể không gắn bó chặt chẽ với tất cả những gì tác động qua lại với con người: đời sống kinh tế – xã hội, chính trị, văn hóa, tư tưởng,… của một giai đoạn và thời đại của từng cộng đồng và tập đoàn xã hội nhất định và cả những điều kiện sống riêng của từng cá nhân, cá thể nào đó. Xét cho cùng, cái nhân bản, cái đẹp xã hội luôn mang tính cụ thể “chịu nhiều sự quy định” rất cụ thể, rất lịch sử và do đó chúng cũng biến đổi, phát triển trong sự phát triển chung toàn xã hội. Một xã hội thực sự cố tính loài, có nhân bản chỉ có thể tìm thấy ở xã hội cộng sản chủ nghĩa với bước đi ban đầu của nó là xã hội chủ nghĩa. Do chính là thế giới của chủ nghĩa nhân đạo, nhân bàn thực sự, của “chủ nghĩa cộng sản” với tính cách là sự xóa bỏ một cách tích cực chế độ tư hữu như là sự tự tha hóa của con người, và do đó coi như sự chiếm hữu một cách thực sự bản chất con người bởi con người và vì con người do đó, coi như việc con người xã hội, nghĩa là có tính chất người – sự quay trở lại này diễn ra một cách có ý thức và có giữ lại tất cả sự phong phú của sự phát triển đã đạt được” (C.Mác). Prômêtê và Sơn Tinh, Anna Karenina và Thúy Kiều là nhân loại đang đi tìm cái toàn nhân loại trong từng nấc thang nghiệt ngã của sự tiến triển lịch sử – cụ thể. Những Sêchxpia, Huy gô, Bandăc, Lêôna đơ Vanhxi, Beethoven, Tônxtôi, Goriki, Nguyễn Du không phải là những nhà nhân đạo chủ nghĩa của thế kỷ XXI, mà là những đại biểu khổng lồ đấu tranh cho lý tưởng nhân bản trong những không gian và thời gian đương đại của họ, và chính vì vậy họ trở thành bất tử, vĩnh hằng trong dòng đời vô tận. Gần đây, người ta đã đội đánh “chất người muôn thuở” đứng trên mọi xung đột xã hội để đánh đồng, đánh lộn, xóa sạch những cái vốn có ranh giới rõ ràng và đối lập trong mọi mặt của đời sống hiện thực. Người ta cũng treo biển “xem xét lại số phận và thiên chức con người” để mơn trớn, kích động những cái thấp hèn mà con người đích thực đang loại trừ hoặc co rút vào “bí ẩn vũ trụ riêng” để nhấm nháp, vuốt ve những mảnh tâm hồn tủn mủn, lạc lõng, thiếu hẳn một giá trị xã hội – thẩm mỹ cần thiết. Rút cục lại tất cả những cái mà người ta mệnh danh là “phát hiện”, trở lại mình và “sáng tạo mới” trên đầy thực ra chỉ là sự vơ vào và nhai lại những “của nợ” mả cả lịch sử xã hội lẫn lịch sử nghệ thuật đã thải bỏ.

Trên tinh thần nghệ thuật hướng tới cái đẹp, cái nhân bản giá trị nhận thức – cảm hóa thẩm mỹ của nghệ thuật không loại trừ yêu cầu mô tả cái xấu, cái không nhân bản cái đối lập với cái đẹp và cái chất người. Trong những hoàn cảnh lịch sử nhất đinh và do yêu cầu phê phán xã hội, đối với một số nghệ sĩ nào đó, cái xấu được phản ánh, mô tả trực tiếp và gần như là duy.nhất (như Gôgôn, Vũ Trọng Phụng đã làm). Ở đây, cái xấu, cái ác được mô tả là cái chướng ngại của sự phát triển con người, thù địch với những gì là chất người dù ở một phạm vi sinh hoạt nhỏ nhất của nó. Những cái xấu, cái ác, dù ma quái “hấp dẫn”, hoành hành ngang nhiên hay ẩn náu giấu mặt đến thế nào chăng nữa rút cục cũng không thoát khỏi định mệnh sòng phẳng là bị tiêu diệt, do mâu thuẫn bên trong của nó, do áp lực và sự trừng phạt của cái đẹp, cái tốt, cái mới. Chính nghệ thuật quá khứ, từ bi kịch cổ đại đến chủ nghĩa hiện thực phê phán đã thấm đượm tinh thần nhân đạo chiến đấu đến cách nhìn mang những nhân tố phủ định biện chứng nhất định.

Mô tả, phản ánh cái ” không phải là chết người”, nếu chỉ dừng lại ở hiện tượng bên ngoài, đơn giản, hoặc thổi phồng quá khích, tuyệt đối hoá như một tai họa vĩnh cửu, một bản chất duy nhất của xã hội với cái tâm thương vay hoặc thù hận, thì chỉ đem lại cho công chúng sự nhận biết hời hợt vô bổ, “lo âu” buồn nôn và “tuyệt vọng” trước cuộc sống đang cần phải vượt lên. Bôi đen thực chất là vi phạm tính chân thực nghệ thuật và tính chân thành của nghệ sĩ. Gốc rễ của thứ “sáng tạo bóng tối” này là cách nhìn đời qua tấm kính của một “linh hồn chết” không mảy may niềm tin vào con người với tư cách là chủ thể quyết định vận mệnh của chính nó và vì nó. Cơn khủng hoảng hiện nay của không ít khuynh hướng nghệ thuật tư sản là sự chối bỏ chúng của đông đảo quần chúng Phương Tây là một điều có thể cắt nghĩa được.

Quan điểm phê phán của chủ nghĩa nhân đạo đích thực bao giờ cũng gắn liền với sự xem xét thế giới trong tính cụ thể lịch sử, trong tính phát triển, đổi mới và cách mạng. Việc định rõ bản chất, cấp độ và phạm vi của cái xấu, cái ác cái giả có ý nghĩa nhận biết và cảm hóa rất cụ thể, rất thực tiễn đối với quần chúng. Một sự mô tả và phê phán cái xấu bằng cặp mắt tùy tiện, trùm lấp hay mơ hồ sẽ không ra khỏi tầm nhìn của anh chàng Chí Phèo chửi cả làng Vũ Đại nhưng ai cũng nghĩ “nó chừa mình ra”. Có hành động dại dột, lỗi thời vì chúng sinh đau khổ của hiệp sĩ Đôn Kihôtê, có bệnh tâm thần của giai cấp cầm quyền lây lan đến tận tâm não anh cùng đinh A.Q có thời Ôblômôp và nhân cách cửa những linh hồn chết, có lão keo kiệt Grăngđê và người hùng hãnh tiến Saclơ, có Nghị Quế và có Xuân tóc đỏ, có Quỷ Mephixto và có bệnh sĩ của cậu giáo Thứ… Sự đa dạng, phong phú, phức tạp trong mô tả cái xấu cũng từ bản chất và cấp độ, phạm vi và vị trí của chính nó trong cuộc sống mà ra. Trước cái xấu được nghệ thuật trình diễn, quần chúng sẽ có được những gam cảm xúc tương ứng, hoặc căm giận, hoặc “vui vẻ tiễn biệt quá khứ” (Mác) hoặc “buồn bực đức hạnh” (Hêghen). Cuối cùng là, khi cảm nhận cái xấu, nhân dân ta nên cao hơn cái xấu và hướng tới cái tốt, cái đẹp. Nghệ thuật phán xét cái xấu một cách đúng đắn chính là “bông hoa của văn minh, rau quả của tinh thần xã hội phát triển” (Biêlinxki).

Con đường nghệ sĩ tiếp cận cái đẹp trong đời thực và đưa nó vào nghệ thuật là không đơn giản. Điều đó đòi hỏi năng lực toàn diện của nghệ sĩ. Vấn đề là ở chỗ: Công chúng khi tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật không thể “chỉ thấy tối sầm” mà phải có được ánh sáng để “nhảy qua bóng tối” đi tới cuộc sống cần có. Thật là buồn phiền, mấy năm trở lại đầy, nền nghệ thuật của chúng ta lặn ngập quá sâu vào đời thường mà hiệu quả xã hội của nó thật ít ỏi. Những bông hoa nghệ thuật chưa mọc lên rực rỡ, tác giả có tầm cỡ chưa xuất hiện. Công chúng nghệ thuật vẫn chờ đợi và vẫn tin rằng xã hội của chúng ta, với những xúc cảm lớn nhất định sẽ kết tinh được các giá trị nghệ thuật xứng đáng với cuộc đời.

Nghị luận về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội mẫu 2

Loài người chúng ta, từ thời “ăn lông ở lỗ” đến xã hội văn minh ngày nay, lúc nào cũng được sự che chở của “mái nhà thiên nhiên” mà sống vui, sống khỏe và phát triển không ngừng. Cho nên nói đến thiên nhiên ta cảm thấy nó rất gần gũi thân thương. Bởi “thiên nhiên là người bạn tốt của con người. Con người cần yêu mến và bảo vệ thiên nhiên”.

Chân lý ấy đã được khẳng định hùng hồn qua thực tế cuộc sống của con người chúng ta.

Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu thiên nhiên là gì? Thiên nhiên là tất cả những gì ở bên ngoài con người, xung quanh con người, không do bàn tay của con người làm nên. Thiên nhiên còn là bầu trời, là rừng, là biển, là sông, là suối, là cây cỏ, chim muông… Tất cả những thứ đó luôn luôn ở bên cạnh con người để bảo vệ và giúp ích cho con người.

Từ bao đời nay, thiên nhiên là nguồn sống vô tận của con người: cơm, gạo, thịt, cá, cây trái, nhà để ở, nước để uống, quần áo để mặc, khí trời để thở… đều do thiên nhiên cung cấp. Con người càng lúc càng văn minh, càng tiến bộ đã tự mình tạo nên nhiều sản phẩm. Muốn làm được những điều ấy, con người rất cần sự giúp đỡ của thiên nhiên, từ đó ta lại càng thấy sự ích lợi của thiên nhiên nhiều hơn. Xưa kia con người cần mặt trời chỉ để sưởi ấm và chiếu sáng nay con người cần mặt trời để làm nguồn năng lượng quan trọng trong sản xuất và đời sống. Rừng xanh giờ đây không chỉ là nguồn lâm sản dồi dào với những cây gỗ quý, những cây thuốc chữa bệnh mà còn là nguồn điều hòa lũ lụt, là lá phổi khổng lồ để cho con người hít thở. Những dòng thác gầm réo, những con suối trong mát, những dòng sông cuồn cuộn chảy không chỉ là một bức tranh phong cảnh mà còn là con đường giao lưu, nguồn thủy sản, hơn thế nó còn là nguồn cung cấp điện năng khổng lồ.

Hơn nữa, thiên nhiên còn rất cần cho đời sống tinh thần của con người. Sau những ngày tháng làm việc vất vả cực nhọc trong phòng làm việc, trong nhà máy, ở trong thành phố chật hẹp đầy khói bụi, con người đến với thiên nhiên sẽ cảm thấy vô cùng sảng khoái, thiên nhiên sẽ giúp con người tái tạo lại sức khỏe, niềm vui sống và nhiệt tình lao động. Đôi khi được nhìn ngắm màu xanh của lá, nghe tiếng suối róc rách bên rừng, vui đùa trên bãi biển cũng đã khiến cho tâm hồn con người lấy được sự thư thái và thanh thản. Nhìn đóa hoa nở, ngắm cảnh chân trời, con người cũng có thể cảm nhận một niềm vui lớn quên hết những phiền muộn ưu tư. Chính thiên nhiên đã làm cho tâm hồn con người trở nên cao rộng mênh mông như trời như biển.

Vẻ đẹp của thiên nhiên còn đem đến cho con người khát vọng suy nghĩ về cái đẹp và sáng tạo nên cái đẹp cho mình. Cái đẹp của một cảnh bình minh, một cảnh hoàng hôn… làm xao xuyến bao nghệ sĩ để tạo nên thơ, ca, nhạc, họa. Nhà khoa học từ thiên nhiên mà rút ra những quy luật của sự sống để từ đó mà sáng tạo nên những công trình phục vụ cho cuộc sống con người. Thiên nhiên quả là nguồn sáng tạo của thơ ca nghệ thuật, là nguồn nghiên cứu phát minh của khoa học kĩ thuật.

Thiên nhiên có ích như thế, cần thiết với con người là thế. Cho nên từ xưa con người đã yêu mến và bảo vệ thiên nhiên như người bạn quý. Văn chương nghệ thuật bao giờ cũng trân trọng yêu quý thiên nhiên. Các nhà hội họa, nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ đều dành cho thiên nhiên một tình cảm đặc biệt… Những bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ đã nâng giá trị vốn có của thiên nhiên lên một bậc. Đọc thơ của các thi sĩ ta càng thấy thiên nhiên muôn màu, muôn vẻ. Nguyễn Trãi thì:

“Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

Thuyền chở yến im nặng vạy then

Còn Nguyễn Du lại là:

Long lanh đáy nước in trời

Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.”

Đọc thơ Hồ Chí Minh ta lại thấy thiên nhiên thực sự là con người, là bạn đồng tâm, đồng chí, từ ánh trăng qua cửa sổ phòng giam hay núi rừng Việt Bắc, đến bóng cây cổ thụ, nhành hoa, tiếng suối giữa rừng đêm.

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”

Mỗi chúng ta ai cũng hiểu được sự cần thiết của thiên nhiên trong cuộc sống của con người, thì phải có ý thức bảo vệ, giữ gìn thiên nhiên như một người bạn quý. Cho nên hơn lúc nào hết, chúng ta hãy thực hiện cấp bách nhiệm vụ “Hãy bảo vệ thiên nhiên” để tạo cho mình một cuộc sống tốt đẹp trong bầu không khí trong lành của thiên nhiên.

Nghị luận về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội mẫu 3

Tsernushevski đã từng nói rằng: “Những khái niệm của người nông dân bình thường về cái đẹp có nhiều phần không giống những khái niệm của những giai cấp có học vấn trong xã hội”. Như vậy, chúng ta có thể phần nào hiểu được, đối với mỗi người, cái đẹp không hoàn toàn giống nhau. Sự mâu thuẫn ấy tồn tại như một lẽ dĩ nhiên. Điều này được thể hiện rõ nét trong câu chuyện sau đây: “Nhà nọ có ba chị em nghèo. Chị Kiều Diễm làm người mẫu khỏa thân cho họa sĩ vẽ. Anh Tài Tử rất thích bức tranh nên ăn cắp mang về nhà treo. Anh Chính Trực tố giác anh mình nhưng lại hiểu sai sự việc. Họa sĩ tặng luôn bức tranh. Chị Kiều Diễm về nhà thấy bức họa vẽ thân thể mình, xấu hổ nên đốt bức tranh.” Các bạn nghĩ trong câu chuyện này thì ai là người có lỗi? Và cái đẹp ở đây có thật sự đẹp không?

Nhà nghèo…Lại là chị cả nên chị Kiều Diễm bươn trải kiếm tiền là một hành động đẹp. Hành động kiếm tiền của chị xuất phát từ tình thương dành cho 2 người em và muốn đỡ đần, phụ giúp bố mẹ. Mục đích của chị cao quý vô cùng! Tuy nhiên, chị đã chọn nghề làm người mẫu khỏa thân – cái nghề trong sạch nhưng vẫn bị mang nhiều điều tiếng. Vì sao chị không chọn một nghề nào khác? Có thể vì công việc này phù hợp với chị, cũng có thể là vì nó giúp chị kiếm được nhiều tiền… Nhưng trên hết, khi đã chấp nhận làm một người mẫu khỏa thân, là chấp nhận phơi bày nét đẹp của cơ thể cho hàng ngàn, hàng vạn người cùng chiêm ngưỡng. Liệu chị Kiều Diễm có hiểu điều này khi chấp nhận làm người mẫu khỏa thân? Ở chị có cái đẹp trong trẻo – là sự hiếu thảo đáng trân trọng, là tình thương dành cho gia đình – nhưng dường như, chị chưa hiểu hết cái nghề chị đang làm.

H.de Balzac đã gọi nghệ sĩ là ” Người thư kí của thời đại”. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng, nghệ sĩ là người đem cái đẹp của hiện tại trở thành cái đẹp vĩnh cửu. Ở câu chuyện của chúng ta, người họa sĩ đó cũng là một nghệ sĩ. Nếu thế, ắt hẳn ông ấy rất yêu cái đẹp, muốn cái đẹp trở nên trường tồn? Có thể, nhưng chỉ là một phần. Vì cuộc sống thực tại với cơm áo gạo tiền, với những lo toan đời thường đã một phần nào níu giữ người nghệ sĩ không thể sống phiêu bồng cùng những giấc mơ, bay bổng theo như vốn dĩ được. Vậy nên, có thể họa sĩ vẽ cô Kiều Diễm vì ông yêu cái đẹp, yêu đường cong mượt mà của người phụ nữ – hoặc chỉ là vì tiền. Dù sao đi nữa, họa sĩ cũng đã làm cái công việc của một nghệ sĩ: tôn tạo vẻ đẹp nghệ thuật.

Vẻ đẹp của cô Kiều Diễm đã được họa sĩ thể hiện lên tranh, vẻ đẹp ấy cuốn hút, hấp dẫn anh Tài Tử. Cái đẹp khiến anh si mê, khao khát được sở hữu cái đẹp. Khát vọng thường tình của con người là chiếm giữ cái đẹp. Sự ích kỉ ấy là một phần của bản năng sau cả một hành trình dài tiến hóa. Muốn hái một cành hoa khi thấy đẹp, muốn nghe mãi một bài hát khi thấy hay, muốn nhìn ngắm mãi nụ cười đẹp mê mẩn của người yêu… Cái khát vọng chiếm hữu cái đẹp đã lột tả rất rõ trong cách ứng xử, mong muốn của mỗi chúng ta. Vì con người luôn yêu cái đẹp, hiển nhiên là vậy. Anh Tài Tử cũng không ngoại lệ khi muốn giữ bức tranh vẽ cô Kiều Diễm cho riêng mình. Nhưng hành động của anh thật không đẹp: ăn cắp. Anh có cảm thấy bản thân mình tồi tệ? Anh có thấy sợ hãi khi bị phát giác không? Liệu anh có yên bình, thoải mái nhìn ngắm cái đẹp khi mà bản thân đã làm một hành động đáng xấu hổ như vậy? Mục đích của anh thì không xấu nhưng cái cách anh hành động để đạt được mục đích ấy thì thật đáng lên án. Và lí do chính đáng nhất ở đây có thể thanh minh cho hành động của anh Tài Tử là cái nghèo. Không phải ai cũng có đủ tiền để mua tranh. Chẳng thế mà người đời hay đùa: nghệ thuật là phù phiếm.

Khi nhận thấy hành động sai trái của anh mình, người em – anh Chính Trực – đã tố giác chính anh ruột của mình. Theo các bạn đây có phải là một hành động đúng không? Theo như bản thân tôi, tôi cho rằng hành động này sai nhiều hơn đúng. Vì sao? Vì tình nghĩa anh em ở đâu rồi? Anh Chính Trực thấy anh mình bị mất danh dự khi tội ăn cắp bị phanh phui thì có thấy xót xa cho người anh của mình không? Tình nghĩa anh em, huynh đệ là thiêng liêng, tố giác anh mình phũ phàng như vậy thì tình cảm gắn bó còn là bao?

Tận sâu thâm tâm mỗi con người luôn tự cho rằng mình đúng – đúng ở một khía cạnh nào đó. Vì vậy, khi bị chính em trai mình tố cáo, bản thân anh Tài Tử ắt hẳn sẽ bị tổn thương, sau đó là hàng ngàn lí lẽ bao biện cho hành động ăn cắp của mình thay vì ăn năn và nhận ra lỗi lầm. Anh Chính Trực có ý tốt, là một người ngay thẳng, dám lên án cái xấu – dù là người thân của mình. Một vẻ đẹp chính trực không phải ai cũng có được. Tuy nhiên anh đã không đặt bản thân vào vị trí của anh trai – anh Tài Tử – để suy nghĩ. Có thể khi thấy anh mình ăn cắp, anh Chính Trực đã cho rằng anh mình là một kẻ đốn mạt, và phản ứng ngay mà không suy nghĩ: vì sao anh tài tử phải ăn cắp? Vì điều gì?

Khi nhìn thấy một cô gái làm mẹ ở tuổi 17, người đời chê cười cô hư hỏng. Khi nghe đến một cậu trai chết vì HIV/AIDS, người ta ngay lập tức cho là anh ăn chơi sa đọa. Nhưng người ta có biết, cô gái bị xâm hại tình dục và cậu trai đã mang trong mình căn bệnh thế kỉ từ khi vừa sinh ra. Đôi khi, chúng ta không thể hiểu được tất cả khi chỉ nhìn bằng mắt. Anh Chính Trực cũng như vậy, anh không hiểu nhưng đã vội vàng phán xét anh Tài Tử và tố giác. Điều đó có phải quá sai lầm không? Và hơn thế nữa, đó còn là anh ruột của mình. Nếu anh chịu suy xét, chịu hỏi han và lắng nghe, khuyên can anh tài tử nên trả lại bức tranh cho họa sĩ… Thì sự việc có thể sẽ khác, tình anh em càng thêm vững bền.

Tìm hiểu nguyên nhân, khuyên nhủ và tố giác. Như vậy chúng ta có thể thấy, tố cáo sai phạm của một ai đó luôn là hành động cuối cùng, khi người ta không chịu nhận lỗi và sửa sai. Vì lòng tự tôn và tự trọng của con người rất lớn. Khi bị hàm oan, khi bị mất thể diện con người sẽ phản ứng tiêu cực như một lẽ tự nhiên.

Sự việc vỡ lở… Họa sĩ không những không trách móc nổi giận mà còn “tặng luôn bức tranh”. Chứng tỏ họa sĩ là một người yêu nghệ thuật chân chính và hào phóng, ông hiểu tấm lòng anh tài tử yêu cái đẹp, ông sẵn sàng tặng bức tranh cho người yêu mến và biết thưởng thức nghệ thuật. Quả thật đây là hành động cao đẹp vô cùng, chính hành động này cũng đã giải tỏa nỗi băn khoăn của tôi nêu ở trên: “Có thể họa sĩ vẽ cô Kiều Diễm vì ông yêu cái đẹp, yêu đường cong mượt mà của người phụ nữ – hoặc chỉ là vì tiền”. Có thể nhiều người cho rằng họa sĩ phản ứng thật kì lạ khi vui vẻ đem tặng đứa con tinh thần cho một kẻ ăn cắp – ăn cắp chính tài sản của mình. Nhưng ông có lí lẽ riêng của ông. Đứng trên khía cạnh là một nghệ sĩ, có lẽ họa sĩ cần một người yêu tác phẩm của ông, biết thưởng thức say mê hơn là một người chỉ biết vung tiền mua tranh rồi không trân trọng, chỉ mượn tiền để lòe thiên hạ, để chứng tỏ bản thân cũng là người hiểu biết nghệ thuật mà thực sự là chẳng biết gì. Từ hành động này, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra những tình huống tương tự trong cuộc sống thường nhật. Người ta vẫn hay hô hào “Coi trọng tấm lòng”, “Tiền không phải là tất cả” nhưng dường như con người đang đi ngược lại điều họ nói. Chúng ta thường quan tâm tới hình thức, sĩ diện hão hoặc đánh giá ẩu một con người ngay khi có cơ hội; Người ta bị đồng tiền làm lóa mắt và bất chấp tất cả để sở hữu nó – khi đã có nhiều tiền, người ta mới ngỡ ngàng nhìn lại, nhận ra bản thân đánh mất đi quá nhiều thứ. Đích đến cuối cùng của mọi cố gắng, nỗ lực trong cuộc sống đều hướng về cái gọi là “Hạnh phúc”. Nhưng quá trình đạt được điều đó khiến người ta mờ mắt bởi bao điều phù phiếm, mộng mị mà quên đi mục tiêu ban đầu, để rồi lạc lối trong u mê, biến chất, mục ruỗng tâm hồn. Một điều ai cũng biết nhưng họ thường quên đi: Đồng tiền chỉ góp phần xây dựng chứ không thể tạo ra hạnh phúc; Quay trở lại với họa sĩ, hành động của ông đã khiến tôi bất ngờ và suy nghĩ, vì đôi khi tôi cũng để đồng tiền chi phối bản thân mình.

“Những khái niệm của người nông dân bình thường về cái đẹp có nhiều phần không giống những khái niệm của những giai cấp có học vấn trong xã hội”. Lập lại một lần nữa, vì như tôi nhận thấy, câu nói này phản ánh khá chính xác mâu thuẫn mấu chốt của câu chuyện. Tại sao ư? Vì khi chị Kiều Diễm về nhà và thấy bức họa vẽ thân thể mình, sự xấu hổ, nhục nhã cuộn trào đã khiến chị không giữ được bình tĩnh mà xé nát bức tranh. Cái đẹp đối với họa sĩ, trong mắt anh Tài Tử khác với cái đẹp của chị Kiều Diễm – vì hoàn cảnh khác nhau. Có lẽ chị Kiều Diễm khi quyết định làm người mẫu khỏa thân đã không hiểu hết được đặc điểm của cái nghề chị đang làm, nên khi rơi vào hoàn cảnh trớ trêu, chị hoàn toàn không giữ được bình tĩnh.

Chị Kiều Diễm xé tranh, hành động xuất phát từ sự xấu hổ và không kìm chế được xúc cảm. Và hành động đó của chị đã tác động mạnh tới các nhân vật còn lại trong câu chuyện: họa sĩ, anh Tài Tử, anh Chính Trực.

Họa sĩ đã bỏ công sức, tiền bạc để tạo ra bức tranh; Anh Tài Tử yêu mến cái đẹp của tranh mà liều lĩnh ăn cắp tranh; Anh Chính Trực cũng vì bức tranh mà có cái nhìn khác về anh mình và làm tình cảm anh em rạn nứt… Cuối cùng chị Kiều Diễm xé nát tranh, chị là người tổn thương nhiều nhất nhưng những người xung quanh chị cũng loay hoay với nhiều cảm xúc khác nhau… Tùy vào tính cách từng người, cách cảm nhận của từng nhân vật mà họ có những suy nghĩ khác biệt. Nhưng dù sao thì hành động của chị Kiều Diễm cũng là một hành động tồi tệ. Hủy hoại cái đẹp thì đáng lên án quá chứ? Trong hoàn cảnh của chị, không nhất thiết phải xé tranh; Chị có nhiều hơn một sự chọn lựa hành xử sao cho đẹp.

Đó là những điều tôi cảm nhận được trong câu chuyện trên, có thể đúng, có thể sai… Mĩ học dạy cho chúng ta biết cái gì đẹp, cái gì xấu, cái đẹp có giá trị như thế nào… Giúp chúng ta tự ý thức sống tốt hơn. Xuất phát từ mục đích, động cơ, tùy vào cách cư xử mà mỗi người sẽ tự làm cho bản thân đẹp hơn hoặc xấu đi. Hầu như ai cũng yêu cái đẹp nhưng không phải ai cũng biết cách hành xử sao cho đẹp mà cuộc sống thì luôn chứa đựng nhiều điều bất ngờ và oái ăm.

Nghị luận về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội mẫu 4

Bàn về hoa và mĩ nhân

Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, mĩ nhân không nên thấy chết yểu.

Trông hoa nên thấy hoa nở, đón trăng nên thấy trăng tròn, viết sách nên viết cho xong, mĩ nhân nên thấy vui vẻ, sung sướng, nếu không thì uổng công.

Ngắm đàn bà buổi sáng, nên đợi lúc phấn son xong.

Có những bộ mặt xấu mà dễ coi, có những bộ mặt không xấu mà khó coi; những áng văn viết không thông (mẹo) mà khả ái, có những áng văn viết thông đọc rất chán. Điều đó, không dễ gì giảng cho hạng nông cạn hiểu được.

Lấy lòng yêu hoa mà yêu mĩ nhân thì tất cả có cái thú riêng; lấy lòng yêu nhân mà yêu hoa thì thêm cái thâm tình và thêm lòng nâng niu thương tiếc.

Mĩ nhân hơn hoa ở chỗ biết nói; hoa hơn mĩ nhân ở chỗ tỏa hương. Nếu không được cả hai thì bỏ hương mà lựa biết nói. Thường hoa đẹp thì không thơm, cánh nhiều tầng thì không trái.

Gọi mĩ nhân thì mặt đẹp như hoa, tiếng nói như chim, tinh thần như trăng, vẻ như liễu, xương như ngọc, da như băng tuyết, dáng như nước thu, lòng như thơ, không còn chỗ nào chê cả.

Trong thiên hạ không có sách thì thôi, có thì phải đọc; không có rượu thôi có thì phải uống; không có núi đẹp thì thôi, có thì phải tới chơi; không có hoa có trăng thì thôi, có thì phải mến yêu, thương tiếc.

Người đàn bà xấu không cho gương là thù địch vì nó là vật vô tri, nếu gương mà hữu tri thì tất đã tan tành rồi.

Mua được một chậu hoa đẹp còn nâng niu thương tiếc, huống là đối với với “một hoa biết nói”.

Không có thơ thì rượu sơn thủy cũng vô nghĩa; nếu không có đàn bà đẹp thì trăng hoa cũng vô ích. Tài tử mà lại đẹp, giai nhân mà lại biêt làm văn đều là không thọ được. Không phải chỉ vì tạo vật đố kị, mà còn vì hạng người đó không phải bảo vật của một thời, mà là bảo vật cổ kim vạn đại, cho nên tạo hoá không muốn cho lưu lại lâu trên đời mà hoá nhàm.

Lâm Ngữ Đường (Trung Quốc) Nguyễn Hiến Lê dịch

Trên đây CITD đã tổng hợp các bài văn mẫu Nghị luận xã hội về cái đẹp trong thiên nhiên và trong xã hội cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 12 mà CITD đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 12 và biết cách soạn bài lớp 12 các bài trong sách Văn tập 1 và tập 2. Đồng thời các dạng đề thi học kì 1 lớp 12, đề thi học kì 2 lớp 12 mới nhất cũng sẽ được chúng tôi cập nhật. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham khảo.

Đăng bởi: CITD

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button